HỔ TRỢ TRỰC TUYẾN

ẢNH VẬT LÝ

THỜI GIAN

TÀI NGUYÊN BLOG VẬT LÝ

Tin tức giáo dục

MÁY TÍNH BỎ TÚI

cấu trúc website

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    2 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    Chức năng chính 1

    Chào mừng quý vị đến với Blog vật Lý.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > BÀI VIẾT CHUYÊN ĐỀ > CHUYÊN ĐỀ VỀ LỊCH SỬ VẬT LÝ HỌC >

    Lịch sử vật lý qua những con tem(Phần16)

    Âm thanh và Ánh sáng (tiếp theo)


    Ánh sáng trắng gồm toàn bộ các màu của cầu vồng, chúng ta có thể thấy điều này qua một lăng kính.

     

    Kính lúp là dụng cụ quang đơn giản nhất: nó là một thấu kính hội tụ.

     

     

     

     

    Kính hiển vi có nhiều hơn một hệ thấu kính: chúng ta nhìn qua thị kính, và dưới vật kính chúng ta đặt vật chúng ta muốn quan sát.

     

    Có những dụng cụ quang (như ống nhòm) cho hình ảnh sắc nét của các vật ở gần cũng như ở xa chúng ta.

     

     

    Các ngành công nghiệp ảnh và phim chụp khai thác công dụng của nhiều bộ phận quang học.

     


    François Arago (1786-1853), sinh ở Estagel (Pyrenees). Ông là một chính khách quan trọng, nhưng đồng thời còn là một nhà vật lí và nhà thiên văn học nổi tiếng. Ông được chú ý tới bởi phát minh của ông ra máy nghiệm phân cực và sau này ông đã phát triển thành máy đo phân cực.

    Arago còn nghiên cứu về các thiết bị điện từ, đó là lí do vì sao chẳng có gì ngạc nhiên khi bạn có thể thấy chân dung của ông in đối diện với Ampère trên con tem thứ hai.


    Augustin Cauchy (1789-1857), nhà toán học người Pháp, sinh tại Paris. Ngoài công trình có sức ảnh hưởng của ông trong mỗi phân ngành toán học, ông còn đóng góp cho thiên văn học, quang học, thủy động học và những lĩnh vực khác.

    Trong gần 800 ấn phẩm có các công trình về lí thuyết sóng, sự đàn hồi, giải tích vi phân, đạo hàm, và sự tán sắc ánh sáng.

    Augusto Righi (1850-1920), nhà vật lí người Italy, sinh tại Bologna. Nổi tiếng với nghiên cứu của ông về ánh sáng phân cực và ánh sáng lập thể.

    Righi còn nghiên cứu về các hạt nhiễm điện trong chất khí, sóng điện và dao động điện.

     

    Claude Chappe (1763-1805) là nhà phát minh người Pháp, người vào năm 1792 đã chứng minh được một hệ semaphore thực tế sau cùng đã nối rộng khắp nước Pháp. Đây là hệ thống truyền thông thực tiễn đầu tiên.

    Claude sinh tại Brûlon, Pháp, là cháu của một nam tước người Pháp. Ông được nâng đỡ bởi nhà thờ, nhưng đã mất hết bổng lộc trong Cuộc cách mạng Pháp. Ông và bốn người anh em thất nghiệp của mình đã quyết định phát triển một hệ thống trạm rơle semaphore thực tiễn, một nhiệm vụ đã được đề xuất từ thời xa xưa, nhưng chưa bao giờ được hiện thực hóa.

    Năm 1792, những tin nhắn đầu tiên đã được gửi thành công giữa Paris và Lille. Những đường dây khác đã được xây dựng, trong đó có một tuyến từ Paris đi Toulon. Hệ thống đó được nhân bản rộng rãi bởi những quốc gia châu Âu khác, và được Napoleon sử dụng để chỉ huy đế chế và quân đội của ông.

    Năm 1805, Claude đã tự kết liễu đời mình bằng cách gieo mình xuống giếng tại nhà riêng của ông. Người ta đồn rằng ông thất vọng vì bệnh tật, và bị kiện tụng bởi những kẻ ăn cắp ý tưởng các hệ semaphore quân sự.

     


    Gabriël Lippmann (1845-1921), nhà khoa học người Pháp, sinh tại Hollerich, Luxemburg. Sau khi đến Heidelberg học phương pháp giảng dạy khoa học, ông được bổ nhiệm làm giáo sư tại khoa khoa học ở Paris (Sorbonne).

    Phương pháp tái tạo màu sắc chụp ảnh của ông, dựa trên hiện tượng giao thoa, đã mang lại cho ông giải thưởng Nobel vật lí năm 1908.

    “Hiệu ứng Lippmann” đã mở rộng lí thuyết quy trình tổng quát của ông cho sự tái tạo màu sắc chụp ảnh.


    Nils Gustaf Dalen (1869-1937), nhà vật lí người Thụy Điển, sinh tại Stenstorp. Ông được trao giải Nobel vật lí năm 1912 cho việc thắp sáng kênh đào Panama và sau này ông chuyển sang nghiên cứu kĩ thuật nhiệt, phát minh ra cái duy trì nhiệt nấu nướng trong vòng 24 giờ chỉ sử dụng tám cân than đá.

     

    Frits Zernike (1888-1966) sinh tại Amsterdam và trở thành giáo sư khoa học lí thuyết tại Groningen. Là nhà phát minh năm 1932 của kính hiển vi tương phản pha, ông đã giải được bài toán ảnh hưởng của quang sai thấu kính lên hình ảnh nhiễu xạ tại tiêu điểm.
    Năm 1953, ông được trao giải thưởng Nobel vật lí.

    Trần Tiểu Gia (theo http://webs.hogent.be/~fjac284/en/)

     

    Thu Vien Vat Ly, vat li, giao an, trac nghiem

    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Ngọc Tuấn @ 23:50 29/07/2009
    Số lượt xem: 1006
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến