HỔ TRỢ TRỰC TUYẾN

ẢNH VẬT LÝ

THỜI GIAN

TÀI NGUYÊN BLOG VẬT LÝ

Tin tức giáo dục

MÁY TÍNH BỎ TÚI

cấu trúc website

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    2 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    Chức năng chính 1

    Chào mừng quý vị đến với Blog vật Lý.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > BÀI VIẾT CHUYÊN ĐỀ > CHUYÊN ĐỀ VỀ LỊCH SỬ VẬT LÝ HỌC >

    Lịch sử vật lý qua những con tem(Phần14)

    Chất lỏng và Chất khí (tiếp theo)

    Auguste Piccard (1884-1962) sinh tại Lutry (Thụy Sĩ). Ông trở thành giáo sư tại đại học Zurich năm 1917 và Brussels năm 1922.

    Ông và người anh em song sinh của ông, Jean, nổi tiếng vì những chuyến du hành khí cầu của họ ngược lên tầng bình lưu; sau này ông tập trung vào nghiên cứu chiều sâu đại dương, thực hiện một vài chuyến lặn xuống biển sâu bằng tàu lặn.

     

     

     

    Con trai của ông, Jacques, đã lặn sâu xuống 35,800 ft (10,912 m).

    Cháu của ông, Bertrand, một nhà khí cầu học, là người đầu tiên đi vòng quanh trái đất không dừng nghỉ.


     

     

     

     

    Louis Pasteur (1822-1895) sinh ở Dôle (Jura thuộc Pháp). Ông học tại Arbois và Besançon, nhưng ông không được nhận vào trường "Ecole Polytechnique de Paris" vì ông thi trượt. Năm 1843, ông được nhận vào trường "École normale supérieure de Paris", và, vào cuối những năm tháng sinh viên của ông, năm 1846, ông trở thành nhà hóa học trợ lí.

    Mặc dù Louis Pasteur không phải là một nhà vật lí, nhưng ông có chỗ đứng xứng đáng trong lịch sử vật lí vì những hoạt động của ông trong những năm tháng bắt đầu sự nghiệp của ông.


     

     

     

    Nghiên cứu ban đầu của ông gồm các nghiên cứu hóa tính của tartrate, nổi tiếng kể từ năm 1815 khi nhà vật lí J.B.Biot chứng minh được rằng một số tinh thể có thể làm thay đổi hướng phân cực của ánh sáng. Pasteur, năm 1848, đã khảo sát tinh thể d-tartrate dưới một thấu kính cầm tay và lưu ý thấy chúng đều có một sự bất đối xứng giống hệt nhau, cái ông cho rằng đủ để làm xoắn một tia sáng sang bên phải. Tuy nhiên, racemate, trong khi cũng bất đối xứng, dường như chứa các tinh thể phân chia đều giữa dạng d-tartrate và ảnh qua gương của nó. Ông đã chịu khó tách các tinh thể đó ra thành hai cột và nhận thấy, trong dung dịch, một cột hành xử giống y như d-tartrate, còn cột kia làm quay ánh sáng phân cực sang bên trái. Do đó, axit racemic, ông kết luận, là một hỗn hợp đều của d-tartrate và l-tartrate, mỗi loại có hoạt tính quang riêng của nó nhưng cùng nhau chúng trung hòa lẫn nhau.

     

     

     

     


    Năm 1849, Louis Pasteur trở thành giáo sư hóa học tại Straatsbourg và năm 1854 tại Lille, bắt đầu nghiên cứu sự lên men, liên quan đến sự tồn tại của một vi sinh vật đặc biệt hay men (một môi trường sống, vô sinh). Công trình của ông mang lại sự phát triển của quá trình tiệt trùng.

    Năm 1857, ông trở lại làm giáo sư hóa học tại Sorbonne ở Paris. Đây là lúc bắt đầu các nghiên cứu về những chứng bệnh khác nhau trên động vật và thực vật. Một văc-xin phòng ngừa bệnh bệnh nhiễm khuẩn, đã được thử nghiệm thành công chống bệnh dại, đã làm cho ông nổi tiếng.

    Năm 1888, Viện Pasteur được thành lập ở Paris, nổi tiếng trên khắp thế giới.

     

     

     

     

     

     

     

     

    Jacobus Henricus Van’t Hoff (1852-1911), nhà hóa lí người Hà Lan. Ông giảng dạy tại các trường đại học Amsterdam và Berlin. Cho công trình của ông về hóa động lực học và sự dẫn điện thấm lọc, ông đã được nhận giải thưởng Nobel Hóa học đầu tiên (1901).

    Những nghiên cứu của ông về cấu trúc phân tử đã đặt nền tảng cho hóa học lập thể.

     


    Chandrasekhara Raman (1888–1970), nhà vật lí người Ấn Độ, sinh ở Trichinopoly. Ông học ở Madras, nhưng vì bệnh tật, ông không thể tiếp tục học ở nước ngoài. Ông làm việc cho chính quyền Anh trong mười năm và thực hiện nghiên cứu nghiệp dư về âm học và quang học.

    Ông là giáo sư vật lí tại trường đại học Calcutta từ năm 1917 và tiếp tục nghiên cứu của ông về quang học. Trong nghiên cứu của ông về sự khuếch tán ánh sáng trong chất lỏng, ông đã khám phá ra cái gọi là “hiệu ứng Raman”.


    Năm 1933, ông chuyển đến Bangalore, ở đó ông đã lập ra “Viện Raman”.

    Ông nhận giải thưởng Nobel vật lí (là người châu Á đầu tiên nhận giải) năm 1930.

    Trần Tiểu Gia (theo http://webs.hogent.be/~fjac284/en/)

     

    Thu Vien Vat Ly, vat li, giao an, trac nghiem

    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Ngọc Tuấn @ 23:49 29/07/2009
    Số lượt xem: 942
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến