HỔ TRỢ TRỰC TUYẾN

ẢNH VẬT LÝ

THỜI GIAN

TÀI NGUYÊN BLOG VẬT LÝ

Tin tức giáo dục

MÁY TÍNH BỎ TÚI

cấu trúc website

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    Chức năng chính 1

    Chào mừng quý vị đến với Blog vật Lý.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > CHUYỆN KỂ VỀ CÁC NHÀ VẬT LÝ >

    Albert Einstein - Bộ óc thiên tài của thế kỉ 20

    einstcool

    Đúng 11h30phút ngày 14 tháng 3 năm 1879, Anbe Anhxtanh ra đời tại thị trấn Um (thị trấn Ulm, miền Wurttemberg) nước Đức trong một gia đình Do Thái. Cậu bé Anhxtanh có cái đầu rất to, xương đầu lại còn dô ra nữa. Cha mẹ cậu rất lo sợ cậu bị thiểu năng trí não bởi vì đến 4 - 5 tuổi cậu vẫn chưa biết nói. Ông bố đã mời nhiều bác sĩ đến khám, họ kết luận là cậu bé hoàn toàn khỏe mạnh và phát triển bình thường. Thuở thiếu thời, Anhxtanh rất lặng lẽ, thường đơn độc đắm mình triền miên trong mơ ước hoặc suy tư. Trò chơi mà cậu ưa thích là dùng các mẩu gỗ hoặc mẩu giấy chắp thành các hình phức tạp. Khi đi học, Anhxtanh rất thích các môn tự nhiên và triết học. Ông chú ruột của cậu là Jacôp tặng cho cậu cuốn sách "Hình học thần thánh" của Ơclit, cậu lập tức đọc một mạch cho đến trang cuối cùng. Tính cách của cậu bé Anhxtanh rất khác thường, với những vấn đề thắc mắc không những cậu buộc mình phải làm sáng tỏnó là gì mà còn đào sâu tìm hiểu thêm vì sao lại như thế. Ở trên lớp, thầy giáo thường không nhẫn nại chờ được mà phải gõ thước vào bảng thôi thúc Anhxtanh trả lời câu hỏi nhanh lênvì cậu luôn suy nghĩ chu đáo rồi mới chịu trả lời. Thầy giáo thường bị đỏ mặt vì không trả lời được  câu hỏi của cậu. Các thầy giáo không thích tính cách Anhxtanh, cậu không chịu học những môn học thuộc lòng. Thành tích học tập của cậu thường đứng cuối lớp

     Tháng 10 năm 1896 Anhxtanh đã thi đỗ vào trường ĐH liên bang Zurich (Thụy sĩ), đó là một trường ĐH nổi tiếng ở Trung Âu. Hồi đó máy quang điện rất hiếm nhưng trong phòng thí nghiệm của trường có nhiều máy và sinh viên có thể tự do đến làm thí nghiệm. Anhxtanh rất say mê làm việc trong phòng thí nghiệm và phớt lờ những giờ lên lớp. Cậu say mê nghiên cứu về vấn đề bụi vũ trụ mà theo cậu là một mệnh đề quan trọng của vật lý lý thuyết, cũng là một "con hổ" đang cản đường tiến lên của ngành vật lý. Sau nhiều đêm trăn trở, Anhxtanh đem bản thảo của mình đến gặp giáo sư Uây-pơ. Giáo sư nhận bản thảo một cách hờ hững. Vốn trong lòng không ưa cậu sinh viên hay bỏ học này, nên khi lật xem vài trang bản thảo, thấy suy nghĩ của Anhxtanh xa rời thực tế, giáo sư trả bản thảo cho cậu và nói: "Anhxtanh, cậu rất thông minh nhưng nhược điểm là không muốn học ai cả". Nói rồi giáo sư bỏ đi.

     Mùa thu năm 1900, Anhxtanh tốt nghiệp ĐH. Đây là thời kỳ long đong nhất của ông bởi ông lâm vào cảnh thất nghiệp. Ông từng khao khát được giữ lại trường làm trợ giáo nhưng muốn thế cần phải có các giáo sư giới thiệu mà chẳng có vị giáo sư nào chịu giới thiệu một sinh viên người Do Thái không chịu thuần phục và hay có những suy nghĩ lạ hoắc này, hơn nữa thành tích tốt nghiệp của Anhxtanh cũng không thuộc loại xuất sắc. Vì kế sinh nhai, Anhxtanh phải bôn ba khắp nơi tìm kiếm việc làm.Tháng 6 năm 1902, Anhxtanh đã xin được một công việc ổn định là làm giám định kỹ thuật ở Cục bản quyền Becnơ (Thụy sỹ)với mức lương 3500 frăng Thụy sỹ một năm. Không phải lo lắng về cái ăn cái mặc nữa,từ đây ông có thể yên tâm nghiên cứu những vấn đề vật lý mà ông yêu thích.Năm 1903, Anhxtanh kết hôn với Mivela là bạn học cũ, năm sau họ sinh một con trai.

     Năm 1905, 26 tuổi, kỳ tích và vinh quang đã đến với ông. Ông dồn thời gian rỗi để viết bốn luận văn vĩ đại hoàn thành việc chuẩn bị lý luận cho cuộc cách mạng vật lý thế kỷ 20.Luận văn thứ nhất  "Phương pháp xác định mới về độ lớn của phân tử", ông trích phần "Nghiên cứu sự khuếch tán và nội ma sát của các chất trung tính trong dung dịch loãngđể xác định độ lớn thực tế của nguyên tử" gửi cho ĐH Công nghiệp liên bang Zurich.Luận văn thứ hai về "Thuyết quang lượng tử". Trước kia, Niutơn cho rằng ánh sáng do các hạt cấu thành, trong lịch sr khoa học gọi đó là "thuyết hạt ánh sáng". Đến đầu thế kỷ 19 các nhà khoa học lại cho rằng ánh sáng không phải do các hạt cấu thành mà là một loại sóng dao động. Về sau lý thuyết điện từ của Macxoen tiến thêm một bước đã chứng minh tính dao động sóng của ánh sáng. Học thuyết này có tên là "Động học sóng của ánh sáng". Lúc ấy Anhxtanh đã từ một góc độ mới mẻ bàn về sự bức xạ năng lượng của ánh sáng. Anhxtanh cho rằng ánh sáng là do những hạt rời rạc(lượng tử) cấu thành. 16 năm sau nhờ luận văn này Anhxtanh giành được giải Nôben vật lý.Luận văn thứ ba nghiên cứu về "Chuyển động Brao". Ngược lại thời gian, năm 1827, nhà thực vật học Brao người Anh làm thí nghiệm rắc phấn hoa vào nước, dùng kính hiển vi quan sát, Brao phát hiện một hiện tượng lạ là phấn hoa chuyển động không ngừng giống như vô số các sinh linh li ti đang nhảy múa. Chuyển động kỳ lạ này được gọi là chuyển động Brao. Mấy chục năm sau, để giải thích hiện tượng này các nhà khoa học đã mất nhiều công sức nhưng chưa lý giải được chu đáo . Anhxtanh bằng nhãn quan độc đáo  của mình đã nắm ngay được bản chất của vấn đề. Đó chính là các phân tử nước vô cùng nhỏ bé đang nhảy múa. Hồi đó rất nhiều người còn chưa tin vào sự tồn tại của phân tử và nguyên tử thì Anhxtanh đã đi sâu nghiên cứư chuyển động của phân tử. Ông cho rằng phân tử nước rất nhỏ, dùng kính hiển vi không thể thấy được nhưng phân tử nước vận động không ngừng. Do sự va chạm với các phân tử nước mà phấn hoa có chuyển động Brao không quy tắc. Anhxtanh còn dùng phương pháp toán học tính được độ lớn của phân tử và hằng số AVÔGAĐRÔ - Số lượng phân tử chất khí bất kỳ ở trạng thái tiêu chuẩn. Ba năm sau nhà vật lý người Pháp Faylan đã chứng minh được định luật của Anhxtanh về chuyển động Brao.Luận văn thứ tư được công bố trên tạp chí vật lý học là "Bàn về điện động lực học của các vật thể động", đó là luận văn đầu tiên về thuyết tương đối. Với luận văn dày 30 trangnày, Anhxtanh đã làm nên thay đổi về bản chất quan niệm về thời gian và không gian. Trước thế kỷ 20. Niu tơn là chúa tể của vương quốc vật lý. Cơ học Niutơn được xây dựng trên cơ sở thời gian và không gian tuyệt đối. Niutơn cho rằng trong bất kỳ điều kiện nào độ dài thời gian đo được luôn luôn như nhau, không thể có kết quả thứ hai . Niutơn cho rằng thời gian và không gian tuyệt đối, không liên quan đến bất kỳ sự vật nào ở thế giới bên ngoài. Ví dụ : Nếu thời gian phát tiếng của một máy ghi âm trên mặt đất đo được là 1 giờ thì thời gian phát tiếng của máy ghi âm đó trên mặt trăng đo được cũng là 1 giờ . Nhưng Anhxtanh cho rằng thời gian phát tiếng của máy ghi âm đó trên mặt trăng đo được không phải là 1 giờ mà có thể hơn hoặc kém hơn 1 giờ. Như vậy thời gian là tương đối . tức là độ dài thời gian đo được trong những điều kiện khác nhau là khác nhau. Đến những năm 30 của thế kỷ 20 từ các thí nghiệm kích phát nguyên tử hyđrô người ta đã chứng minh được thời gian bị kéo dài . Về không gian cũng tương tự , độ dài theo phương chuyển động của cái thước chuyển động với tốc độ nhanh cũng bị rút ngắn lại so với cái thước ở trạng thái nằm yên. Đó là thuyết tương đối hẹp. Luận văn về thuyết tương đối hẹp đã nhanh chóng thu hút sự hứng thú mạnh mẽ của một bộ phận các nhà khoa học có kiến thức cao trong giới vật lý. Qua luận văn này họ nhận được những thông tin mới về cuộc cách mạng trong vật lý.

    Tuy nổi tiếng vậy nhưng cuộc sống của Anhxtanh vẫn chẳng có gì thay đổi. Hàng ngày 9 giờ ông đến cơ quan làm việc. Sau giờ làm việc ông đến làm thuê cho xưởng làm dấm. Nhiều học giả nổi tiếng đinh ninh Anhxtanh phải là một giáo sư, họ tìm gặp ông và rất ngạc nhiên khi thấy ông chỉ là một viên chức quèn, đầu tóc rối bù , áo sơ mi nhăn nhúm. Vị giáo sư nổi tiếng Plăng đã phải kêu lên:"Làm sao lại có thể chà đạp nhân tài đến thế. Một thiên tài sắp phát động một cuộc cách mạng trong vật lý , một Côpecnic của thế kỷ 20 mà lại phải làm những việc lặt vặt của một công chức hạng ba ở cục bản quyền, thật bất công". Năm 1909, nhờ giáo sư Klein tích cực giới thiệu , ĐH Công nghiệp liên bang Zurich đã mời Anhxtanh làm giáo sư, lương 4500 frăng một năm. Anhxtanh rất vui vì bây giờ ông có thể nuôi được gia đình bằng việc nghiên cứu vật lý

     Danh tiếng Anhxtanh ngày càng lớn. Mùa hè năm 1913 Plăng  và Lơnxtow ở viên khoa học Prusi (Đức) đã mời Anhxtanh về làm giáo sư ĐH Beclin, Viện sỹ Viện khoa học Prusi và Cục trưởng Cục nghiên cứu vật lý với mức lương rất hậu hĩnh. Anhxtanh đã nhận lời . Với những thiết bị nghiên cứu vào loại bậc nhất và điều kiện vật chất đầy đủ , Anhxtanh đã đưa thuyết tương đối đi vào con đường phát triển huy hoàng. Chỉ hai năm sau khi ở Beclin, năm 1916 ông đã hoàn thành luận văn có tính tổng kết về thuyết tương đối: “Cơ sở thuyết tương đối rộng” và đưa ra giả thuyết hữu hạn vô biên của không gian vũ trụ, đã tổng kết sự phát triển của thuyết lượng tử , đã lần đầu tiến hành khám phá sóng lực hấp dẫn được công nhận là đỉnh cao của lý luận vật lý thế kỷ 20. Về sau Anhxtanh căn cứ trên phương trình chuyển động của thuyết tương đối đã đưa ra ba dự đóan lớn:-         Tia sáng bị cong đi trong trường hấp dẫn của Mặt trời-         Quy luật chuyển động của sao Thủy ở điểm gần Mặt trời nhất : Sau mỗi vòng quay quanh Mặt trời, vị trí điểm gần Mặt trời nhất của sao Thủy bị biến đổi một ít-         Tia quang phổ trong trường lực hấp dẫn bị dịch chuyển về phía ánh sáng đỏ (phía sóng dài)

     Ngày 29/5/1919, các nhà thiên văn người Anh thông qua quan sát nhật thực đã chứng minh tính chính xác của thuyết tương đối rộng: Tia sáng bị uốn cong trong trường hấp dẫn của Mặt trời, không gian là không gian cong, học thuyết mới về lực hấp dẫn hoàn toàn chính xác. Hai dự đoán sau cũng lần lượt được nghiệm chứng . Anhxtanh nhanh chóng trở thành thần tượng được cả thế giới sùng bái. Từ khắp nơi trên thế giới , lời mời gửi đến Anhxtanh như đợt sóng triều. Ông đã đến nhiều nơi trên thế giới để thuyết minh về thuyết tương đối. Ông được mệnh danh là “Niuton của thế kỷ 20”Năm 1933, để phản đối chế độ phát xít Đức, Anhxtanh đã rời bỏ nước Đức đến định cư ở thành phố Prinxeton nước Mỹ. Ở Mỹ Anhxtanh đã có nhiều bài diễn thuyết cho hòa bình của nhân loại. Ông đã sống 22 năm ở MỹNgày 18/4/1955 Anhxtanh đã vĩnh viễn ra đi , hưởng thọ 76 tuổi. Thế giới mất đi một nhà khoa học kiệt xuất, nhân loại mất đi một người lương thiện nhất . Ông mất đi nhưng tên tuổi ông đã trở nên bất tử, đúng như ông nói: “Chúng ta chết đi nhưng sự nghiệp sáng tạo chung của chúng ta sẽ còn mãi mãi”

         

     

    Những cột mốc trong cuôc đời của Anhxtanh

    *14/03/1879: Sinh tại thị trấn Ulm, miền Wurttemberg, Ðức
    * 1880: Gia đình Einstein đến ở Munich
    * 1895: Einstein thi rớt trường Ðại học Bách Khoa ở Zurich
    * 1896: Lần này ông thi đậu và ra trường EPZ (Ecole Polytechnique de Zurich)
    * 1901: Einstein nhập quốc tịch Thụy Sĩ
    * 1900-1902: dạy học
    * 1902: Ðược bổ nhiệm làm giám định viên hạng ba cho văn phòng bảo vệ bằng sáng chế thuế quan Berne (Thụy Sĩ). Trong khi rảnh, ông suy nghĩ về ánh sáng và đìện động (électrodynamique).
    * 1903: Cưới Mileva Maric, bạn cùng Ðại học (Toán). 1904 sinh con trai: Hans Albert.
    * 1905: Ðăng những bài khảo luận khoa học trên những vật thể đang chuyển động trên căn bản thuyết tương đối hẹp và một giả thuyết về ánh sáng
    *1907: Planck, rồi Born, Minkowski ghi thuyết Tương đối vào trong chương trình Vật lý.
    *1908: Ðược làm giáo sư Ðại học Berne rồi tại Ðại học Bách Khoa Zurich (EPZ), được tước danh dự Doctor Honoris Causa. Nổi tiếng toàn cầu.
    *1910: Sinh đứa con thứ hai, Edouard
    * 1911: Một năm tại Prague (Tiệp Khắc) rồi trở lại Zurich năm 1912
    * 1913: Einstein được bầu làm hội viên Hàn Lâm viện Khoa học Prusse (Phổ quốc)

    * 1914: Einstein đến ở tại Berlin,  ly thân với Mileva
    * 1915: Hoàn tất thuyết Tương đối đại cương và những công trình về Cợ học lượng tử.
    * 1919: Li dị Mileva. Ông cưới em bà con của ông là Elsa, họ có 2 con là Ilse và Margot.
    *29/5/1919 Những nhà Thiên văn Anh quốc và Eddington đã chững minh sự lệch của những tia sáng, sau một nhật thực.
    * 1920: Hội nghị tổ chức tại Berlin chống lại thuyết tương đối. Sự chạm trán giữa Einstein với những nhà Khoa học Ðức.
    * 1921: Du lịch qua Hoa kỳ
    * 1922: Du lịch qua Pháp và Nhật Bản. Ðược giải Nobel về Vật lý
    *Càng ngày càng lấn vào lĩnh vực chính trị quan trọng: Chủ nghĩa hòa bình và chủ nghĩa phục quốc (Sionisme, Do Thái).
    * 1924: Mở Viện Einstein tại Potsdam (20 km Tây Nam Berlin)
    * 1927: Hội nghị Solvay: Thảo luân công cộng giữa Einstein và Niels Bohr về Cơ học lượng tử
    * 1930: Du lịch sang Hoa Kỳ
    * 1933: Ðến ở tại Princeton.
    * 1934: Tổng thống Roosevelt tiêp Einstein.
    * 1936: Elsa mất
    * 1939: Einstein viết cho Roosevelt để ra hiệu cho ông sự cần thiết tạo một bom nguyên tử.
    * 1940: Ông nhận quốc tịch Hoa Kỳ nhưng vẫn giữ quốc tịch Thụy sĩ.
    * 1943: Tham vấn (consultant) tại văn phòng chất nổ của Hải quân Hoa Kỳ
    * 1946: Làm Chủ tịch Ủy ban khẩn cấp của những nhà Khoa học nguyên tử (Emergency Committee of Atomic Scientists).
    Thư cho Liên Hiệp Quốc (ONU) đòi thành lập một chính phủ quốc tế thực sự
    * 1947: Giáo sư tại Berkeley
    * 1950: Ðại Học Jérusalem Do Thái được ký thác những tác phẩm của Einstein
    * 1952: Ông được đề nghị làm chủ tịch Israël nhưng ông từ chối.
    * 1955: Einstein ký bản tuyên ngôn (manifeste) bỏ việc sử dụng khí hạt nhân.
    * 18 tháng Tư 1955: Ông mất tại Princeton, New Jersey, USA. Trước khi chết, ông đã viết giấy tặng bộ óc của mình cho các nhà nhân chủng học nghiên cứu

     Một chút về đời tư của Anhxtanh

    ·        1903, Anhxtanh cưới cô bạn học cũ là Mileva Maritsch, nàng hơn chàng vài tuổi. Mileva tư tưởng chưa tiến bộ lại không biết cách sống hòa mình với các người xung quanh, vì vậy gia đình Anhxtanh không được hạnh phúc lắm. Ít lâu sau, hai người con trai ra đời, đứa con cả cũng mang tên Albert như cha. Anhxtanh đã tìm được hạnh phúc bên hai đứa con kháu khỉnh

    ·        1914: Einstein đến ở tại Berlin,  ly thân với Mileva

    ·        Tháng 2/1919: Li dị Mileva.

    ·        Tháng 6/1919: Trong thời gian sống ở Berlin, Einstein đã gặp cô Elsa, một người em họ, một người bạn từ thuở nhỏ. Cô này lúc bấy giờ góa chồng và có hai đứa con riêng, song cô là người tính tình vui vẻ, lại đảm đang. Hai người thành hôn với nhau sau khi Einstein li dị Mileva . Họ có 2 con là Ilse và Margot.. Cuộc sống của họ tương đối đầy đủ và hạnh phúc. Bà Elsa thường chăm sóc chồng một cách hiếm có. Bà chỉ cho phép ông mỗi ngày hút một điếu thuốc lá. Chính thức thì ông tuân theo kỷ luật này , nhưng trong phòng của ông , căn phòng không ai được phép vào, kể cả vợ của ông lại có một hộp thuốc do các bạn của ông bỏ đầy vào. 

      Albert Einstein rất thích âm nhạc. Âm nhạc đối với ông vừa là môn giải trí, vừa là nguồn an ủi và còn là sự cần thiết nữa. Ông có tai nghe nhạc rất chính xác và rất ưa thích các nhạc phẩm của Mozart. Ông không có bàn tay đặc biệt của các nhạc sỹ kỳ tài, các bàn tay này thường dài, đầy đặm với các ngón tay thon thon, song ông chơi đàn một cách rõ ràng, đúng nhịp, không đi trước mà cũng không bỏ qua các dấu nhạc. Trong các nhạc cụ , Einstein ưa thích vĩ cầm. Nhiều người quí mến ông đã gửi tặng ông các nhạc cụ do những thợ đàn danh tiếng làm, nhưng Einstein lại ưa thích cây vĩ cầm tầm thường của Nhật Bản, hình như cây đàn này đã cho ông nhiều kết quả tốt đẹp. Einstein nghiện thuốc lá. Einstein không uống rượu và không thức khuya, sợ rằng việc làm ngày mai sẽ bị đình trệ.

      Trong tiền bán thế kỷ 20, thuyết tương đối của Einstein đã làm thay đổi quan niệm khoa học thông thường của con người và người ta chỉ gặp các cuộc cách mạng tư tưởng tương tự với Newton và Darwin trong các thế kỷ trước. Vì thế, Đại văn hào Bernard  Shaw đã không nhầm lẫn khi gọi Albert Einstein là “vĩ nhân thứ tám” của thế giới khoa học, sau Pythagoras, Aristotle, Ptolemy, Copernicu, Galileo, Kepler và Newton.

                        Những câu nói nổi tiếng của Albert Einstein“Suy nghĩ, suy nghĩ, suy nghĩ nữa”“Nghiên cứu khoa học giống như khoan gỗ, có người thích khoan gỗ mỏng, còn tôi thích khoan gỗ dày”“Tôi không có thiên tài gì đặc biệt. Tôi chỉ là một người hiếu kỳ cuồng nhiệt mà thôi”“Văn minh cần giao tiếp, thế giới cần hòa bình”    

       Những mẩu chuyện thú vị về Albert Einstein và thuyết tương đối

      ·        Albert Einstein rất yêu mến diễn viên điện ảnh nổi tiếng Saclô. Ông viết cho nghệ sĩ một bức thư nói: “Trong phim “Nhật ký đào vàng”, Ngài chỉ diễn câm thế mà mọi người trên thế giới đều hiểu. Ngài chắc chắn sẽ trở thành một nhân vật vĩ đại”. Saclô đã cung kính trả lời Anhxtanh: “Tôi càng kính phục Ngài hơn. Thuyết tương đối của Ngài không ai hiểu cả, thế mà Ngài đã trở thành nhân vật vĩ đại rồi”·        Khi thuyết tương đối được công bố , các tờ baod của Anh , Mỹ đã đămg một bức biếm họa minh họa không gian bị uốn cong của thuyết tương đối. Bức tranh vẽ một thám tử tay cầm đèn pin soi, ánh sáng đèn sau khi bị uốn cong hai, ba lần mới chiếu lên lưng một tên trộm đang đào tường khoét ngạch. Tiêu đề của bức tranh biếm họa là: “Albert Einstein bắt trộm. Thật thú vị”

      ·        Năm 1921, khi vừa đặt chân lên đất Mỹ, ông đã bị các ký giả hiếu kỳ vây lấy, yêu cầu ông dùng mấy câu thật ngắn gọn nói rõ Thuyết tương đối là gì ? Ông nói : “Nếu các vị không đòi hỏi quá khắt khe về câu giải thích thì tôi có thể nói như thế này: Xưa nay người ta cho rằng; nếu tất cả các vật trong vũ trụ mất đithì thời gian và không gian vẫn tồn tại y như cũ, còn thuyết tương đối thì nói rằng thời gia và không gian cũng sẽ mất đi như tất cả các vật đó”. Tuy nhiên , ngay sau đó, các ký giả láu lỉnh lại chĩa micro về phía vợ ông, bà Elsa. “Thưa bà, bà hiểu thuyết tương đối là thế nào?”. Elsa là một phụ nữ dịu dàng, giỏi nội trợ. Câu trả lời của bà lúc đó xuất thần như một quan chức ngoại giao điêu luyện. Bà mỉm cười nói: “Ồ ! Thực tình tôi cũng không hiểu lắm, tuy ông ấy nhiều lần giải thích cho tôi. Nhưng tôi cho rằng tình cảm và hạnh phúc của chúng tôi hình như không cần đến thuyết tương đối. Trình độ toán học của tôi đủ để ghi chép các khoản chi tiêu trong gia đình là được rồi”

      ·        Trời đã phú cho Albert Einstein bản tính hay cười. Không bao giờ ông quên khôi hài, ngay cả khi bị rủi ro. Có người phàn nàn với ông rằng thuyết tương đối của ông khó hiểu quá. Ông liền trả lời: “Có gì là khó hiểu, chẳng hạn như khi ta ngồi cạnh người yêu thì thấy một giờ ngắn bằng một phút, còn nếu ta ngồi trên lò lửa hồng thì một phút lại lâu bằng một giờ”
      ·        Một hôm, có người hỏi Albert Einstein: “Ông có chắc rằng lý thuyết của ông đúng không ?”. Ông đáp: “Tôi tin chắc rằng đúng, nhưng người đời chỉ có được dẫn chứng cụ thể vào năm 1981, khi đó tôi đã chết rồi. Khi đó nếu tôi có lý, thì tại nước Đức người ta bảo tôi là người Đức còn người Pháp lại bảo tôi là dân Do Thái. Nếu lý thuyết của tôi sai, thì người Đức bảo tôi là dân Do Thái còn người Pháp sẽ bảo tôi là dân Đức”

    Nhắn tin cho tác giả
    Trịnh Ngọc Long @ 12:08 13/03/2009
    Số lượt xem: 5341
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến